HỖ TRỰC TRỰC TUYẾN

LIÊN KẾT WEBSITE

KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG

LK WEBSITE GIÁO DỤC

Gặp lại thầy Hiệu trưởng năm xưa

Thứ ba - 19/04/2016 23:49 | Số lần đọc: 951
Gặp lại thầy Hiệu trưởng năm xưa

Gặp lại thầy Hiệu trưởng năm xưa

 

      Một chiều cuối tháng 5, nhận được tin từ một người đồng nghiệp, chúng tôi ghé thăm thầy Nguyễn Xuân Tựu ở một xóm nhỏ ven con sông La êm đềm và thơ mộng.
      Với tôi, thầy vừa là bậc tiền bối, vừa là bậc cha chú đáng kính mà chúng tôi ngưỡng mộ từ lâu nhưng bây giờ mới gặp mặt.
       Từ trường THCS Bình Thịnh (xã Thái Yên) đến quê Thầy Tựu (xã Đức La - Đức Thọ) cũng chỉ 8-9 km. Khi đi qua xã Đức Nhân, tôi bảo người đồng nghiệp trẻ đi vòng lên phía mặt đê La giang, tắt máy dừng lại trong giây lát ngắm nhìn bờ bãi, xóm làng… Đứng trên bờ đê, tầm mắt ta được trải rộng, những ruộng mía, nương ngô, cánh đồng lạc vẫn xanh tốt như ngày nào, những cánh chim thưa thớt, những tiếng chim cuối hè khắc khoải sau lũy tre xanh gợi nhớ về những năm tháng tuổi thơ mình đã cùng bè bạn chạy nhảy trên đoạn đê này trong những lần được đi thi học sinh giỏi cấp cụm, huyện. Sau này, mặc dù đã được đi nhiều nơi, biết khá nhiều danh lam thắng cảnh của đất nước nhưng con đê La Giang sừng sững quanh quanh xanh mướt cỏ gừng cỏ may của quê nhà vẫn luôn làm tôi xao động, thấy gắn bó đến lạ kỳ.
            Vì đã điện thoại hẹn trước, nên khi gặp cả Thầy và chúng tôi đều không bất ngờ nhưng nhìn ánh mắt đằm thắm tôi biết Thầy vui khi gặp lại những người học trò nhỏ của một ngôi trường Thầy đã dạy học trong những năm tháng khó khăn và gian lao nhất.
img_1305_500
            Sau khi xin phép Thầy được thắp nén hương lên bàn thờ cụ bà (Vợ Thầy) vừa mất cách đây mấy tháng do bị bệnh hiểm nghèo, thầy trò bắt đầu hàn huyên về những kỷ niệm của Thầy trong hơn 3 năm làm Hiệu trưởng tại trường cấp 2 Đức Bình (trường THCS Bình Thịnh ngày nay)
         ...Tháng 9 năm 1965, thầy được điều về trường cấp 2 Đức Bình làm Hiệu trưởng thay cho Thầy Trịnh Can chuyển đi đơn vị khác. Lúc đó, trường có khoảng 11, 12 lớp, trường không có Hiệu phó, cũng chưa có chi bộ riêng mà Đảng viên sinh hoạt chung chi bộ với trường cấp 1 Đức Bình do thầy Phan Nho Tuyên làm bí thư chi bộ.
          - Dạy học thời chiến tranh có gì khác với thời bình thưa thầy? Thầy có thể cho bọn em biết đôi điều về trường lớp, về hoạt động của giáo viên và học sinh cấp 2 Đức Bình thời đó được không ạ ?
          -Trường cấp 2 Đức Bình khi đó đã có một dãy phòng học 6 phòng xây rất bề thế ở vùng Đồng cháng đầu làng Thái Yên nhưng do chiến tranh ác liệt, máy bay giặc mỹ bắn phá thường xuyên nên các lớp học phải sơ tán về các thôn xóm nơi có nhiều lùm cây che chắn. Các lớp được học trong các lán phòng không do các thôn xóm và phụ huynh làm cho. Thầy còn nhớ một số lán như lán dăm nền hát, lán xóm Trùa, lán nền Đình ở Bình Định, lán nhà thờ họ Nguyễn Công ở Bình Hà, lán nương hoang Bình Tiến, lán dăm đồng Trưa… Mỗi lán dài chừng 6-7m, rộng khoảng 5m. nền các lán được đào sâu chừng nửa mét. Vật liệu làm lán tùy từng thôn xóm và phụ huynh đóng góp, sẵn cái gì thì làm cái đó. Có lán dùng vật liệu dỡ ra từ các ngôi miếu, ngôi đình; có lán làm bằng tre nứa, xung quanh là hệ thống những hầm trú ẩn Triều tiên và những giao thông hào đi về các thôn xóm. Các lớp học trong các lán rất chật hẹp, bàn ghế cũng đặc biệt chúng được làm bằng những cây tre chôn cố định thành từng dãy, mặt bàn, mặt ghế sẵn cái gì vừa kích thước thì dùng cái đó. Tuy nhiên ở Đức Bình bàn ghế tươm tất hơn các nơi khác. Không khí trong các lán học lúc nào cũng bốc lên mùi ngai ngái ẩm thấp rất khó chịu.Những ngày trời nắng ráo dạy, học trong các lán hầm đã khổ thì những ngày mưa gió và mùa đông học sinh và giáo viên lại càng khổ trăm bề: thiếu ánh sáng, ẩm ướt, nền nhão nhoẹt, muỗi như trấu, có khi còn bị rắn rết, sâu bọ… Đó chỉ là những khó khăn do thiên tai và thời tiết gây ra, còn nhứng khó khăn chính ấy là phải đối phó với sự hiểm nguy do máy bay mỹ thường xuyên gầm rú, oanh tạc. Chúng bắn phá không theo quy luật nào cả. Học sinh đi học phải đội mũ rơm để đề phòng bom bi, ngồi trong lớp học phải luôn luôn để ý, nghe tiếng kẻng báo động có máy bay là lập tức chạy nhanh vào các căn hàm trú ẩn ở xung quanh lán. Có khi vừa nghe kẻng báo yên, thầy trò vừa lục tục trở lại lán chưa kịp nối lại bài học thì đã nghe tiếng máy bay phảm lực gầm rú trên đầu, lại dạt nhanh về bốn hướng…Hàng tuần, Hiệu trưởng phân công cho giáo viên dạy theo buổi, giáo viên đã dạy ở lớp nào thì dạy từ đầu đến cuối buổi luôn, đa số các môn học chỉ dạy phần lý thuyết, phần thực hành thí nghiệm thì không làm được. Ban đêm, thầy soạn bài, trò học bài bằng đèn phòng không (Loại đèn dầu được che chắn rất kín, chỉ trừ một khoảng sáng rất nhỏ để tránh việc bị máy bay mỹ phát hiện), nhưng việc xét lên lớp hay lưu ban vẫn khá chặt chẽ, hàng năm vẫn có từ 5-10% học sinh lưu ban. Những học sinh trong diện lưu ban, dĩ nhiên là không vui nhưng không phản ứng tiêu cực như một số học sinh bây giờ.            Ngoài việc dạy và học, các Thầy cô giáo và học sinh các lớp lớn (lớp 7) vẫn thường xuyên tham gia các hoạt động như đào giao thông hào, làm trận địa cùng với dân quân tự vệ, chặt lá ngụy trang gửi cho đơn vị Bộ đội pháo cao xạ bảo vệ cầu Đò Trai ở Đức Thịnh…  
          - Dạy học thời chiến tranh, các Thầy Cô giáo sinh hoạt ăn ở như thể nào thưa thầy? Thầy còn nhớ tên các gia đình phụ huynh đã giúp đỡ nhà trường thời đó?   
         - Giáo viên dạy ở cấp 2 Đức Bình thời đó đa số là người các địa phương khác (Chỉ có thầy Nguyễn Trọng Tính là người trong xã), xa nhà, chưa có nhà công vụ như bây giờ nên phải dựa vào dân, được dân nuôi. Mà thời đó phụ huynh rất tôn trọng giáo viên, dân Thái Yên rất hiếu học, trọng thầy cô. Thầy trọ trong nhà Ông bà Ước (xóm Bình tiến), Thầy Võ Mạnh Chương quê Hưng hòa (Hưng nguyên- Nghệ An) trọ trong nhà Cố Nguyện, Thầy Đặng trọ trong nhà Cố Mười, nhà bà Báu, bà Tuân , ông Tuệ và rất nhiều các gia đình khác đã tạo điều kiện cho các thầy cô có chỗ ăn ở để dạy học. Tình cảm quý mến, bao bọc của nhân dân đối với giáo viên là một trong những động lực quan trọng giúp cho nhà trường duy trì được việc dạy và học trong những năm tháng mà giặc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại ở Miền Bắc.    
        - Ba năm dạy học ở Đức Bình, có chuyện gì thầy nhớ nhất?       
      - Thầy nhớ nhất là trận bom của giặc mỹ ném vào làng Thái Yên vào năm 67, 68 gì đó. Trận bom đã cướp đi sinh mạng của mấy chục người dân Thái Yên ở xóm Bình Định, Bình Hà vào thời điểm chập tối trong đó có trên chục em trong độ tuổi cấp 1, cấp2. Không thể nói hết được khung cảnh tang thương của làng Thái Yên trong những ngày đó và có lẽ cho đến ngày hôm nay những người lớn tuổi ở Thái Yên vẫn còn nhớ đến trận bom kinh hoàng ngày đó.        
      - Thời đó, học sinh Đức bình có ai học xuất sắc không thầy?thầy có gặp lại ai trong số học sinh cũ ở Đức Bình (Thái Yên)?       
     - Lâu ngày, thầy không còn nhớ nhiều, chỉ nhớ nhất là học sinh tên Ưu giỏi toán, còn Nguyễn Đăng Phát viết văn rất hay. Sau này, thỉnh thoảng xem ti vi thầy có thấy Nguyễn Đăng Phát xuất hiện khi nói về thời sự ở Đông Âu. Năm trước thầy vào Sài gòn có đến nhà em Hảo (con Thầy Tuyên) chơi, thấy Hảo làm ăn rất khá. Đợt thầy ra Hà Nội, em Liên (Bảo) vợ anh Nhu có đến thăm thầy. Mặc dù ra Hà Nội đã lâu nhưng các anh chị ấy vẫn giữ được nét riêng của dân Thái Yên.   
         - Cuối năm 1968 Sau khi xa cấp 2 Đức Bình, Thầy công tác ở đâu thưa thày? Gia đình riêng của Thầy hiện nay ra sao Thưa thầy?        
       - Cuối 1968 thầy được điều về thị trấn Đức Thọ một thời gian ngắn, sau đó được điều về cấp 2 Đức Quang. Đức Quang lúc này cúng là một trọng điểm bắn phá của máy bay Mỹ. Sang 1969, thầy được cử đi học Đại học Sư phạm, năm 1972 học xong được điều về Ty giáo dục Hà Tĩnh. Năm 1976 khi Hà Tĩnh sáp nhập với Nghệ An, thầy được điều về dạy ở trường Sư phạm Nam Đàn cho đến ngày về hưu. Thầy rất an tâm về gia đình riêng của mình. Các con cháu đều ngoan, có công ăn việc làm ổn định. Thầy đã có 2 chắt ngoại. Các con của Thầy cũng có người ít nhiều có công danh, đoàn kết, hiếu thảo với cha mẹ, có tình nghĩa với dòng tộc, quê hương. Sắp tới, thầy ra Hà Nội và cùng với cô con Dâu đi thăm đứa cháu nội đang du học ở Mỹ cũng là dịp con cháu muốn thầy được khuây khỏa sau khi bà vợ thầy mất…  
          Nhìn khuôn mặt phúc hậu thoáng nét buồn của thầy khi nhắc đến người bạn đời đã đi xa không còn được cùng thầy chứng kiến sự thành đạt của con cái, âu cũng là số phận Cái nét buồn rất đời thường mà cũng rất đỗi hạnh phúc, cái hạnh phúc giản dị của một người Thầy đã suốt đời gắn bó với sự nghiệp trồng người và dù ở cương vị nào GV, HTTHCS, Cán bộ Ty , GV trường SP... thầy vẫn được những người học trò cũ, đồng nghiệp cũ luôn kính trọng và cả cái hạnh phúc của một người cha, người ông đã nuôi dạy được những người con, người cháu trưởng thành có những đóng góp nhất định và luôn sống có ích cho quê hương. Tôi mong đến một ngày khi trường kỷ niệm 50 năm ngày thành lập, Thầy Nguyễn Xuân Tựu có mặt để gặp lại những người đồng nghiệp cũ, học trò cũ và chứng kiến sự trưởng thành của một ngôi trường mà Thầy là một trong những lớp người đầu tiên đã tạo dựng được truyền thống từ những buổi đầu gian khó
                                     (Đức Thọ, tháng 6/2009)
                                            Nam Đức   

Tác giả bài viết: Nam Đức

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn